TÌM KIẾM CÂU HỎI

Nội dung
Danh mục

Tất cả các mục » Tổng hợp

Hỏi đáp về Kiểm soát TTHC- Câu hỏi 4

Yêu cầu Sở, ngành phải thông báo cho Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính trong thời gian 03 ngày làm việc sau khi nhận được quyết định công bố của Bộ là thừa và không cần thiết; nếu thông báo thì thông báo dưới hình thức nào (sở ra văn bản thông báo cho Sở Tư pháp là đã có Quyết định công bố của Bộ?) trong khi Quyết định công bố của Bộ đó đã được gửi cho Sở Tư pháp rồi.

Trả lời  

Vấn đề nêu trên liên quan đến trách nhiệm của các sở, ngành chuyên môn trong việc kiểm tra, rà soát, đối chiếu giữa nội dung thủ tục hành chính trong quyết định công bố của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với các quy định tại các VBQPPL của chính quyền địa phương trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của sở, ngành. Vì vậy, mặc dù Sở Tư pháp cũng nhận được quyết định công bố của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ nhưng Sở Tư pháp không thể làm thay các sở, ngành chuyên môn trong việc kiểm tra, rà soát, đối chiếu nêu trên.

Việc các sở, ngành chuyên môn thông báo cho Sở Tư pháp về kết quả rà soát, kiểm tra, đối chiếu và lựa chọn hình thức “Bản sao y bản chính” quyết định công bố là cần thiết để Sở Tư pháp có thông tin phục vụ công tác quản lý, tổ chức thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương.

Theo quy trình hành chính văn thư, thì việc thông báo nói chung, thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 05/2014/TT-BTP nói riêng được thực hiện theo hai hình thức: (1) hình thức thông báo bằng văn bản giấy (phương thức truyền thống) và hình thức thông báo bằng văn bản điện tử (phương thức điện tử). Hình thức thông báo bằng văn bản điện tử chỉ thực hiện được khi phần mềm hệ thống giao dịch điện tử của địa phương đã hoàn thiện, bảo đảm kết nối, chia sẻ thông tin giao dịch giữa các sở, ngành với nhau. Trong quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp với các sở, ban, ngành, cơ quan về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính và việc công bố, công khai minh bạch thủ tục hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý cần xác định rõ các phương thức, hình thức thông báo; trường hợp nếu quy ước thống nhất, các cơ quan cũng có thể thông báo bằng phương tiện điện thoại…

 

 

Gửi bởi Phòng KSTTHC Ngày 08/12/2014

Hỏi đáp về Kiểm soát TTHC- Câu hỏi 5

Tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 05/2014/TT-BTP có quy định “....tổ chức ngay việc niêm yết thủ tục hành chính đã công bố”. Quy định này khó thực hiện đối với trường hợp thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, vì cơ quan chuyên môn phải mất một khoảng thời gian nhất định để triển khai đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cho nên việc tổ chức ngay việc niêm yết thủ tục hành chính đã công bố theo quy định tại Thông tư này thì địa phương cũng gặp khó khăn.

Trả lời :

Một trong các yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính là phải tổ chức thực hiện niêm yết công khai kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành (quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 05/2014/TT-BTP).

Trách nhiệm thực hiện niêm yết công khai thủ tục hành chính được quy định tại Điều 8 Thông tư số 05/2014/TT-BTP, trong đó khoản 2 có quy định đối với cả trường hợp của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nếu thủ tục hành chính được công bố thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết của các cơ quan này.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện trên cơ sở quyết định công bố của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Do đó, trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn về ngành, lĩnh vực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làtổ chức ngay việc niêm yết thủ tục hành chính đã công bố phụ thuộc chủ yếu vào mức độ khẩn trương và tính kịp thời của việc yêu cầu các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính phải niêm yết công khai thủ tục hành chính theo quyết định công bố của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 

 

Gửi bởi Phòng KSTTHC Ngày 08/12/2014

Hỏi đáp về TĐ-KT

Câu hỏi 1: Danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc, Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến, Chiến sĩ tiên tiến được quy định như thế nào trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành?

Trả lời:

Các Danh hiệu nêu trên được quy định tại Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị định số 65/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/8/2014). Cụ thể như sau:

1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” được xét tặng cho cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc nhất được lựa chọn trong số những cá nhân có hai lần liên tục đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương.

Sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học để làm căn cứ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” phải đạt hiệu quả cao và có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc.

Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương có trách nhiệm giúp người đứng đầu xem xét, công nhận và đánh giá mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học.

Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” được phong tặng sau năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương lần thứ hai.

2. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”: được xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau:

a) Là “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”;

b) Có sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công tác được cơ sở công nhận hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm thu được áp dụng hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức, đơn vị công nhận.

 Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học do Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận. Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp cơ sở giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận.

3. Danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”: được xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau:

1. Danh hiệu “Lao động tiên tiến” được xét tặng cho cán bộ, công chức, viên chức; Danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” được xét tặng cho Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân đạt các tiêu chuẩn  đạt các tiêu chuẩn sau:

a) Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đạt năng suất và chất lượng cao;

b) Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần tự lực, tự cường; đoàn kết, tương trợ, tích cực tham gia phong trào thi đua;

c) Tích cực học tập chính trị, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ;

d) Có đạo đức, lối sống lành mạnh.

2. Danh hiệu “Lao động tiên tiến” xét tặng cho công nhân, nông dân, người lao động đạt các tiêu chuẩn sau:

a) Lao động sản xuất có hiệu quả, tích cực tham gia phong trào thi đua và hoạt động xã hội;

b) Gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có đạo đức, lối sống lành mạnh, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng.”

Điều 5 Nghị định 65/2014/NĐ-CP quy định thêm về Danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” như sau:

 - Cá nhân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản dẫn đến bị thương tích cần điều trị, điều dưỡng theo kết luận của cơ sở y tế thì thời gian điều trị, điều dưỡng được tính để xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.

- Cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thì thời gian học tập được tính vào thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị để được bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Trường hợp cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng từ 01 năm trở lên, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, có kết quả học tập từ loại khá trở lên thì được xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.

 - Thời gian nghỉ thai sản theo quy định được tính để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.

 - Đối với cá nhân chuyển công tác, cơ quan, tổ chức, đơn vị mới có trách nhiệm xem xét, bình bầu danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” (trường hợp có thời gian công tác ở cơ quan cũ từ 06 tháng trở lên phải có ý kiến nhận xét của cơ quan cũ).

- Trường hợp được điều động, biệt phái đến cơ quan, đơn vị khác trong một thời gian nhất định thì việc xem xét, bình bầu danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” do cơ quan, đơn vị điều động, biệt phái xem xét quyết định (có ý kiến nhận xét của cơ quan, đơn vị tiếp nhận cá nhân được điều động, biệt phái).

- Không xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” đối với một trong các trường hợp: Mới tuyển dụng dưới 10 tháng, nghỉ từ 40 ngày làm việc trở lên, bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên.

 

Gửi bởi Văn phòng Sở Ngày 12/12/2014