TÌM KIẾM CÂU HỎI

Nội dung
Danh mục

Hỏi đáp về TĐ- KT

Câu hỏi 2: Theo văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh gồm thành phần nào, có nhiệm vụ, quyền hạn ra sao?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 65/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/8/2014), thành phần Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh gồm:

a) Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) Hội đồng có từ 13 đến 15 thành viên, trong đó có từ 03 đến 04 Phó Chủ tịch. Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh là Phó Chủ tịch thường trực. Các Phó Chủ tịch khác và các ủy viên do Chủ tịch Hội đồng quyết định.

 Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát động các phong trào thi đua theo thẩm quyền;

b) Định kỳ đánh giá kết quả phong trào thi đua và công tác khen thưởng; tham mưu việc sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng; kiến nghị, đề xuất các chủ trương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong từng năm và từng giai đoạn;

c) Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra, giám sát các phong trào thi đua và thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật về thi đua, khen thưởng;

d) Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phong tặng các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền khen thưởng;

 

Gửi bởi Văn phòng Sở Ngày 12/12/2014

TGPL cho người khuyết tật

Câu hỏi 1: Người khuyết tật nếu không viết được đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý thì phải làm thế nào? Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý có thể gửi đến đâu và bằng cách nào?

Trả lời:

Điều 33 Luật Trợ giúp pháp lý quy định: Người được trợ giúp pháp lý phải có đơn yêu cầu hoặc gặp người thực hiện trợ giúp pháp lý trình bày và có giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý không thể tự mình viết đơn yêu cầu thì người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm ghi các nội dung vào mẫu đơn, để họ tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe và yêu cầu họ ký tên hoặc điểm chỉ.

Theo quy định tại Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 hướng dẫn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính của Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 và Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp thì đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý được hướng dẫn như sau:

Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phát đơn miễn phí cho người có yêu cầu (mẫu Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này) hoặc người có yêu cầu tự viết đơn có chữ ký hoặc điểm chỉ. Trong trường hợp người có yêu cầu không đến được mà có người đại diện; người giám hộ đến thay thì người đại diện, người giám hộ ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn, trừ trường hợp giữa người có yêu cầu với người đại diện, người giám hộ có mâu thuẫn về quyền, lợi ích hợp pháp.

Trong trường hợp người có yêu cầu chưa viết đơn thì người tiếp nhận phải hướng dẫn họ điền và ký vào đơn. Nếu họ không thể tự mình viết đơn được thì người tiếp nhận có trách nhiệm điền đầy đủ các thông tin cần thiết vào mẫu đơn, để họ tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe và đề nghị họ ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn.

Trong trường hợp người có yêu cầu nhờ người thân thích (ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên, anh chị em ruột đã thành niên) hoặc ủy quyền cho người khác đến nộp đơn thì ngoài giấy tờ chứng minh là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, người đến thay phải xuất trình Giấy chứng minh nhân dân của mình hoặc giấy ủy quyền có ký xác nhận của người có yêu cầu. Người nộp đơn thay ghi rõ họ, tên, số Giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ cư trú và ký tên vào Sổ theo dõi, tổng hợp vụ việc trợ giúp pháp lý.

Đơn được nộp trực tiếp tại trụ sở hoặc địa điểm làm việc của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc nộp trực tiếp cho người thực hiện trợ giúp pháp lý (trong trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý bên ngoài trụ sở) hoặc được gửi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý qua thư tín hoặc bằng các hình thức khác”.

Gửi bởi TTTGPLNN Ngày 19/12/2014

TGPL cho người khuyết tật

Câu hỏi 2: Giấy tờ chứng minh là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật được quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý quy định, người được trợ giúp pháp lý gồm: Người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

 

Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 hướng dẫn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý quy định giấy tờ chứng minh người có yêu cầu là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý đối với người tàn tật không nơi nương tựa như sau:

Người tàn tật không nơi nương tựa khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý phải xuất trình một trong các giấy tờ sau đây:

- Giấy xác nhận là người tàn tật không nơi nương tựa của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; giấy xác nhận của cơ sở Bảo trợ xã hội, Hội người tàn tật hoặc của cơ sở trợ giúp người tàn tật khác hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, sinh hoạt;

- Các giấy tờ hợp pháp khác mà dựa vào đó có thể biết rằng người có tên trong đó là người tàn tật không nơi nương tựa.

          Theo quy định của Luật Người khuyết tật tại điểm d khoản 1 Điều 4 thì người khuyết tật có quyền được trợ giúp pháp lý.

          Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 29/6/2006, còn Luật Người khuyết tật được thông qua vào ngày 17/6/2010, theo quy định về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì áp dụng quy định về người được trợ giúp pháp lý là người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật. Theo đó, người khuyết tật được trợ giúp pháp lý mà không ràng buộc thêm điều kiện không nơi nương tựa theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.

          Như vậy, người khuyết tật khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý, để chứng minh là người khuyết tật cần xuất trình một trong các giấy tờ: Xác nhận là người khuyết tật của UBND xã nơi người  đó cư trú, giấy xác nhận của cơ sở bảo trợ xã hội, Hội người khuyết tật hoặc của cơ sở trợ giúp người khuyết tật khác hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người khuyết tật làm việc, sinh hoạt hoặc các giấy tờ khác mà dựa vào đó có thể biết rằng người có tên trong đó là người khuyết tật.

 

Gửi bởi TTTGPLNN Ngày 19/12/2014