Kết quả 3 năm triển khai thi hành Luật hộ tịch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

26/10/2018

Luật Hộ tịch năm 2014 là văn bản pháp lý mang tính cải cách hành chính mạnh mẽ, có nhiều nội dung mới lần đầu được quy định. Ngay sau khi Bộ Tư pháp ban hành quyết định số 333/QĐ-BTP ngày 14/02/2015 về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật hộ tịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã kịp thời ban hành các Quyết định, Kế hoạch chỉ đạo triển khai và quán triệt thực hiện đến các cấp, các ngành trong toàn tỉnh, như: Quyết định số 456/QĐ-UBND ngày 25/02/2015 về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Hộ tịch trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 2245/KH-UBND ngày 14/4/2016 về xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 3846/KH-UBND ngày 26/5/2017 của UBND tỉnh và Đề án số 5434/ĐA-UBND ngày 24/7/2018 về thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024 trên địa bàn tỉnh. Có thể thấy công tác chỉ đạo, ban hành Kế hoạch và tổ chức thực hiện Luật Hộ tịch được thực hiện kịp thời, đầy đủ, nội dung chỉ đạo bám sát các quyết định, Kế hoạch chỉ đạo của Bộ Tư pháp và đáp ứng yêu cầu quản lý của tỉnh.

Để Luật Hộ tịch thực sự đi vào cuộc sống, UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo các ngành các cấp tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến cán bộ công chức, người dân và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, việc thực hiện tuyên truyền dưới nhiều  hình thức phong phú như: tổ chức hội nghị tập huấn; xây dựng các chuyên mục Pháp luật và Đời sống hàng tháng trên Báo Vĩnh Phúc, Đài phát thanh& Truyền hình của tỉnh; Bản tin tư pháp của ngành; tuyên truyền thông qua các hình thức khác như tờ rơi, sách hỏi đáp phát đến cơ sở; tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn trực tiếp hoặc qua điện thoại của cán bộ trực “một cửa” tại UBND các cấp khi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu… Thông qua công tác tuyên truyền, PBGDPL đã cung cấp kiến thức pháp lý về hộ tịch đến người dân, cán bộ công chức nhà nước biết được ý nghĩa, vai trò của công tác hộ tịch trong hoạt động quản lý nhà nước, là cơ sở cung cấp dữ liệu để hoạch định chính sách phát triển kinh tế- xã hội, y tế, giáo dục… Từ đó góp phần  nâng cao nhận thức của người dân về quyền, nghĩa vụ trong thực hiện pháp luật về hộ tịch và tự giác thực hiện, hạn chế tình trạng sự kiện hộ tịch phát sinh không được đăng ký hoặc đăng ký quá hạn.

Bên cạnh việc chỉ đạo triển khai thực hiện, tỉnh cũng đã quan tâm đến việc đánh giá thực trạng cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch trên địa bàn toàn tỉnh từ đó có phương án bố trí và đào tạo  bồi dưỡng để đến ngày 01/01/2020 cán bộ công chức làm công tác hộ tịch đều đạt chuẩn theo quy định của Luật Hộ tịch. Kết quả rà soát có 207 người làm công tác tư pháp, hộ tịch (trong đó cấp xã 190 người, cấp huyện 17 người), có 46 xã có 02 người làm công tác tư pháp hộ tịch (công chức và hợp đồng); trong đó có 77 cán bộ, công chức chưa có trình độ từ trung cấp luật trở lên. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 09 công chức phụ trách hộ tịch của các Phòng Tư pháp; 231 cán bộ, công chức hộ tịch/137xã, phường, thị trấn, các xã đều bố trí 01 công chức phụ trách công tác hộ tịch. Trong đó, có 35 công chức TPHT cấp xã chưa có trình độ chuyên môn ngành luật, nhưng hầu hết đều cử theo học các lớp đào tạo luật (liên thông đại học hoặc tại chức).

UBND tỉnh đã giao cho Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ, Học viện Tư pháp – Bộ Tư pháp tổ chức 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp hộ tịch, định kỳ 01 lớp/năm. Kết quả, đến nay trên địa bàn tỉnh có 160 cán bộ, công chức có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch theo quy định Quyết định số 2247/QĐ-BTP ngày 25/12/2015 của Bộ Tư pháp (do Học viện tư pháp và Trường Trung cấp luật Thái Nguyên cấp), đạt 100% xã, phường, thị trấn có tối thiểu 01 công chức TPHT được cấp chứng chỉ bồi dưỡng theo quy định.

 Trên cơ sở thực hiện Kế hoạch 2245/KH-UBND về xây dựng, thực hiện Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, tỉnh đã thực hiện rà soát, đánh giá thực trạng cơ sở vật chất thiết yếu đảm bảo triển khai thực hiện phần mềm hộ tịch (máy vi tính, máy in, mạng internet) và trang bị 107 máy vi tính, 17 máy in cấp cho UBND xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Cục công nghệ thông tin, Bộ Tư pháp và tỉnh đã mở 01 lớp điểm bồi dưỡng, hướng dẫn sử dụng Hệ thống thông tin đăng ký, quản lý hộ tịch cho 30 cán bộ, công chức là đầu mối triển khai thực hiện Phần mềm hộ tịch trên địa bàn tỉnh. Thực hiện 05 lớp bồi dưỡng, tập huấn thực hiện Phần mềm hộ tịch cho 150 cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch trên địa bàn tỉnh. Phối hợp cùng Cục công nghệ thông tin, cấp hơn 283 tài khoản người dùng và chính thức thực hiện Phần mềm hộ tịch trên địa bàn toàn tỉnh từ ngày 02/5/2018 đến nay.

Công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên với cấp dưới được thực hiện nghiêm túc. Định kỳ hằng năm Sở Tư pháp đều ban hành kế hoạch thanh tra, kiểm tra công tác tư pháp cấp huyện, cấp xã (lĩnh vực trọng điểm của hoạt động thanh tra, kiểm tra là công tác hộ tịch); UBND các huyện, thành, thị đều ban hành kế hoạch và thực hiện kiểm tra công tác tư pháp cấp xã với chỉ tiêu chấm điểm thi đua tối thiểu đạt trên 50% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn được kiểm tra hằng năm.Trong 02 năm 2016, 2017 Sở Tư pháp thanh tra tại 45 đơn vị cấp xã, 02 đơn vị cấp huyện; kiểm tra tại 10 đơn vị cấp xã và 01 đơn vị cấp huyện. Riêng năm 2018 theo kế hoạch đến hết tháng 9/2018 kiểm tra tại 12 đơn vị cấp xã và 06 đơn vị cấp huyện về kết quả thực hiện Luật hộ tịch. Qua kiểm tra đã kịp thời hướng dẫn, giải đáp và tháo gỡ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc từ cơ sở và chấn chỉnh trong toàn tỉnh; đề nghị UBND cấp huyện xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

Công tác phối hợp giữa cơ quan tư pháp các ngành, đơn vị liên quan được tỉnh quan tâm, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước của tỉnh và địa phương trong tỉnh. Nội dung phối hợp rất đa dạng, linh hoạt từ khâu chỉ đạo, triển khai đến tổ chức thực hiện và giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh trong thực tế.

Công tác đôn đốc, hướng dẫn trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch, bao gồm cả các hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch được tỉnh, cơ quan tư pháp các cấp thực hiện thường xuyên, kịp thời. Việc hướng dẫn, đôn đốc được thực hiện khi có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Tư pháp hoặc xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương trong công tác quản lý, điều hành. Qua 03 năm thực hiện tỉnh, huyện đã ban hành rất nhiều văn bản hành chính hướng dẫn, chỉ đạo, thực hiện, điển hình có Văn bản triển khai thực hiện Luật Hộ tịch khi luật bắt đầu có hiệu lực thi hành theo Văn bản số 6555/HTQTCT-HT ngày 28/12/2015 của Cục HTQTCT; hướng dẫn cấp xác nhận tình trạng hôn nhân, đặc biệt đối tượng kết hôn với người nước ngoài; quán triệt thực hiện quy định về đăng ký khai sinh, kết hôn; văn bản chỉ đạo rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, cơ sở vật chất thực hiện công tác hộ tịch trên địa bàn tỉnh; công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Phần mềm hộ tịch dùng chung và báo cáo đánh giá sơ bộ tình hình triển khai thực hiện trong toàn tỉnh…

 Công tác hướng dẫn nghiệp vụ tư pháp cơ sở của tỉnh được thực hiện tốt và kịp thời. Hình thức hướng dẫn nghiệp vụ rất linh hoạt: bằng văn bản (đối với các vụ việc phức tạp); trực tiếp hoặc qua điện thoại (bình quân 15 -20 ý kiến/tháng). Đối tượng đề nghị hướng dẫn, phối hợp rất đa dạng: Cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch cấp huyện, cấp xã; các ngành, đơn vị liên quan trong quản lý, sử dụng giấy tờ hộ tịch của cán bộ, công chức, nhân viên hoặc người dân có sự kiện hộ tịch..

* Đánh giá sự chuyển biến từ khi thực hiện Luật hộ tịch.

Luật Hộ tịch được ban hành, cơ bản có sự kế thừa những tích cực và kịp thời bãi bỏ, sửa đổi những quy định không phù hợp của Nghị định 158/2005/NĐ-CP, nên việc triển khai thực hiện được thuận lợi. Đồng thời Luật hộ tịch bổ sung những quy định mới mang tính cải cách hành chính mạnh mẽ, tạo bước ngoặt và khẳng định vai trò quan trọng của công tác hộ tịch. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, địa phương gặp những khó khăn nhất định. Nguyên nhân có nhiều, song chủ yếu tập trung ở 02 nhóm nguyên nhân cơ bản.

- Thứ nhất, Luật Hộ tịch ban hành với nhiều quy định mới như quyền lựa chọn đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú, tạm trú hoặc thực tế đang sinh sống; quy định cấp số định danh cá nhân trong đăng ký khai sinh, quy định không phải xuất trình giấy tờ cá nhân và giấy tờ chứng minh nơi cư trú… nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp chưa thể thực hiện dẫn đến rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý trong giải thích cho người dân hiểu, cũng như khó khăn trong việc tổ chức bổ sung những nội dung còn thiếu trong sổ, giấy tờ hộ tịch cấp cho người dân. Mặt khác, một số quy định của Luật, văn bản hướng dẫn thi hành không thực sự phù hợp với quan hệ xã hội phát sinh và thực tiễn quản lý như quy định về điều kiện đăng ký lại hộ tịch; trách nhiệm pháp lý của cơ quan được đề nghị cung cấp thông tin đăng ký, quản lý hộ tịch theo thời hạn quy định; vấn đề biểu mẫu hộ tịch không mang tính khái quát, thiếu tính ổn định nên hay bị thay đổi, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện; quy định trích lục hộ tịch thay thế cho các quyết định, giấy tờ hộ tịch để người dân “không phải giữ bên mình” nhiều giấy tờ hộ tịch, nhưng lại đồng thời quy định bản chính Trích lục hộ tịch được chứng thực sao y bản chính, điều này không phản ánh đúng mục tiêu cải cách đã đề ra…

- Thứ hai, việc kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch theo hướng có công chức chuyên trách hộ tịch, đồng thời đảm bảo ổn định lâu dài… là rất khó khăn, vì thực tế trong bối cảnh thực hiện tinh giảm biên chế,  số lượng công chức ít, nhưng nhiệm vụ của công chức tư pháp – hộ tịch ngày càng nhiều, kiêm nhiệm thêm các nhiệm vụ khác do UBND cùng cấp giao. Đã phần nào ảnh hưởng tới tiến độ, chất lượng hiệu quả công việc của một bộ phận cán bộ, công chức cơ sở.

Trên cơ sở đánh giá những hạn chế, khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế phối hợp và công tác cán bộ công chức ở cơ sở, tỉnh đã đề xuất, kiến nghị với Bộ Tư pháp một số nội dung như sau:

- Về thể chế, trên cơ sở kết quả công tác sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành, đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật, Nghị định 123/2015/NĐ-CP không thống nhất với Bộ luật dân sự, các Luật có liên quan và không phù hợp với thực tiễn quản lý để đề nghị Chính phủ, Quốc hội ban hành; kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Thông tư 15/2015/TT-BTP cho phù hợp.

- Về cơ chế phối hợp, đề nghị Bộ Tư pháp có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan đặc biệt là ngành Công an, Y tế chỉ đạo ngành về trách nhiệm phối hợp thực hiện công tác quản lý nhà nước về hộ tịch, dân cư theo thẩm quyền như: phối hợp trong chỉ đạo, thực hiện liên thông các TTHC; trách nhiệm quản lý của ngành công an về vấn đề cư trú (việc cắt, nhập khẩu đối với người đã đi khỏi nơi cư trú, định cư ở nước ngoài trong thời gian dài), quản lý người nước ngoài, người có 02 quốc tịch (có quốc tịch Việt Nam) nhập cảnh vào Việt Nam; trách nhiệm của ngành Y tế trong ban hành, quản lý, cấp Giấy chứng sinh, giấy báo tử đảm bảo đủ nội dung, đúng đối tượng làm cơ sở cho cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện.

- Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục tăng cường công tác phối hợp với Bộ Công an trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng kết nối Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tiến tới mở rộng phạm vi kết nối, chia sẻ thông tin quản lý với cơ sở dữ liệu ngành khác như cơ sở dữ liệu cấp thẻ BHYT, dữ liệu sinh, tử của cơ sở y tế, dữ liệu ly hôn, hủy kết hôn của ngành Tòa án.

- Có giải pháp, chỉ đạo hướng thực hiện nhập dữ liệu hộ tịch từ sổ giấy của các địa phương (Sở Tư pháp, UBND các cấp) trước khi thực hiện phần mềm hộ tịch dùng chung trở về trước vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của địa phương và quốc gia.

Bích Liên- HCTP

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: