Công tác chứng thực sau 06 năm thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch trên địa bàn tỉnh

23/07/2021

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2015 và thay thế nhiều nghị định cùng điều chỉnh hoạt động chứng thực trước đó như: Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 04/2012/NĐ-CP và Điều 4 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP); các quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định tịa Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000. Điều này phản ánh Nghị định số 23/2015/NĐ- CP là văn bản pháp lý đầu tiên thống nhất điều chỉnh đầy đủ các nội dung của hoạt động chứng thực trong cùng 01 văn bản pháp luật.  Đảm bảo cung cấp cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện phục vụ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở các cấp thực hiện hoạt động chứng thực được thống nhất, đồng bộ trong cả nước.

Sau 06 năm thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn thi hành, công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh đã đạt kết quả quan trọng, tạo cơ hội để người dân, cá nhân tham gia các quan hệ pháp lý, dân sự kinh tế được thuận lợi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. Điểm qua một số kết quả nổi bật trên các phương diện quản lý, tổ chức thực hiện như:

    Trên phương diện quản lý, chỉ đạo, điều hành, những năm qua công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời và đúng mức của Cấp uỷ, Chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, từng bước đưa hoạt động chứng thực đi vào nề nếp. Công tác chỉ đạo, triển khai được Ủy ban nhân dân tỉnh và Chính quyền các cấp cơ sở quan tâm thực hiện, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của địa phương, vì tính chất của hoạt động chứng thực liên quan, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, cá nhân và tổ chức. Công tác chỉ đạo, triển khai được thực hiện thường xuyên, kịp thời bằng các hình thức phù hợp để thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 và Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 củ Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; các quy định của văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến hoạt động chứng thực như Bộ luật dân sự; Luật Nhà ở; Luật Đất đai. Chỉ đạo, triển khai và tổng kết thi hành Chỉ thị số 17/CTT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng lạm dụng bản sao chứng thực tại cơ quan, tổ chức; tổ chức sơ kết 03 năm thi hành Nghị định số 2015/NĐ-CP. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về chứng thực được quan tâm thực hiện thường xuyên; mở 04 hội nghị tập huấn, bồi dưỡng pháp luật chuyên đề về chứng thực cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác chứng thực các cấp trên địa bàn tỉnh.

Đặc biệt, ngày 27/01/2016 UBND tỉnh ban hành Quyết định số 333/QĐ-UBND về việc bãi bỏ các quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp huyện, UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh sang các Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện cho phù hợp với Nghị định 23/2015/NĐ-CP và pháp luật về đất đai, đảm bảo cá nhân có quyền lựa chọn UBND cấp xã hoặc tổ chức hành nghề công chứng thực hiện chứng thực hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất. Ngày 20/9/2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 34/2017/QĐ-UBND quy định mức trần thực hiện chí phí in, chụp, đánh máy các giấy tờ, văn bản trong thực hiện chứng thực trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động này đảm bảo thực hiện thống nhất việc thu, sử dụng chi phí ngoài phí chứng thực tại UBND các xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

Nội dung quản lý nhà nước về chứng thực được thực hiện theo quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn thi hành như: Phê duyệt cộng tác viên dịch thuật tại các Phòng Tư pháp theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; Thực hiện nhiệm vụ quản lý mẫu chữ ký chứng thực của người ký chứng thực. Công tác hướng dẫn nghiệp vụ được thực hiện kịp thời, đồng bộ tờ tỉnh đến cơ sở về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện; lập sổ, cách ghi chép, lưu trữ hồ sơ, sổ chứng thực; nội dung khác như: Vấn đề xác nhận chứng thực chữ ký trong Sơ yếu lý lịch; hướng dẫn chứng thực Giấy ủy quyền của thành viên Hộ gia đình vay vốn tại ngân hàng CSXH; hướng dẫn thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Tỉnh chủ động thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chứng thực từ tháng 11 năm 2019 bằng việc triển khai Phần mềm quản lý chứng thực tại 135/135 xã, phường thị trấn; 09/09 Phòng Tư pháp huyện, thành phố và 23 tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh. Qua đó, đảm bảo cơ quan Tư pháp các cấp thực hiện hiệu quả công tác quản lý nhà nước về chứng thực với các tính năng khoa học như: Truy cập, cập nhật, kiểm tra thông tin thực hiện chứng thực của cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới; Đăng những thông tin quan trọng,  nội dung đề xuất hoặc giấy tờ, văn bản yêu cầu chứng thực có vi phạm, nghi ngờ vi phạm trong Bảng tin nội bộ để các cơ quan, cá nhân sử dụng phần mềm chứng thực trên địa bàn tỉnh biết; phục vụ hiệu quả công tác thống kê báo cáo; cơ quan thực hiện chứng thực không phải thực hiện ghi sổ giấy, thay vào đó là xuất từ phần mềm và đóng quyển, lưu trữ theo quy định. Đặc biệt, từ tháng 4 năm 2021 trên cơ sở thực hiện Phần mềm 1 cửa đã có sự tích hợp với Phần mềm quản lý chứng thực và Cổng dịch vụ công quốc gia, cơ quan thực hiện chứng thực sẽ đồng thời triển khai được việc chứng thực bản sao điện tử từ bản chính, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước trong tình hình mới.

Công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về chứng thực của Ủy ban nhân dân và cơ quan tư pháp các cấp được thực hiện theo thẩm quyền. Định kỳ hằng năm, Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch kiểm tra công tác tư pháp cơ sở, trong đó có kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chứng thực của Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh. Kết quả từ năm 2015 đến nay đã thực hiện thanh tra tại 24/24 tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh; thanh tra và kiểm tra tại 110 Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra, thanh tra đã phát hiện những sai phạm, hạn chế; kịp thời giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tế; phát hiện xử lý vi phạm với 06 công chứng viên, phạt tiền 46.000.000đ.

Kết quả thực hiện yêu cầu chứng thực, đã giải quyết 76.135 bản chứng thực bản sao từ bản chính; 527 việc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản; 9.542 việc chứng thực chữ ký người dịch thực hiện tại Phòng Tư pháp cấp huyện.  Thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính 4.160.097 bản;  136.320 việc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản; 51.257 việc chứng thực hợp đồng giao dịch tại UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh. Qua từ đó kịp thời cung cấp các giấy tờ, văn bản được chứng thực để cá nhân, tổ chức tham gia các quan hệ pháp lý, giao dịch dân sự, kinh tế theo quy định pháp luật. Từ kết quả trên cho thấy, việc chứng thực bản sao từ bản chính là hoạt động được thực hiện nhiều nhất với 4.236.232 bản, thực hiện tại cấp huyện, cấp xã và phần lớn được thực hiện tại UBND cấp xã với  4.160.097 bản. Đồng thời phản ánh tình trạng lạm dụng bản sao được chứng thực trong thực hiện giao dịch dân sự, thủ tục pháp lý tại cơ quan, tổ chức còn cao, gây tốn kém cho người dân, tổ chức và tăng gánh nặng cho nhà nước trong việc phải đầu tư nhân lực, tài chính đảm bảo thực hiện hoạt động chứng thực. Đòi hỏi đặt ra trong thời gian tới cần tăng cường thực hiện chứng thực điện tử, sử dụng bản chứng thực điện tử, giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia, dịch vụ công của tỉnh trong các quan hệ pháp lý, dân sự khác nhằm giảm rút chi phí cho người dân, tổ chức.

Trong thời gian qua, công tác chứng thực, đặc biệt là ở cấp xã còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định từ thể chế (việc thực hiện chứng thực phải đặt trong mối quan hệ với nhiều quan hệ pháp lý dân sự khác về đất đai, nhà ở; tài sản là động sản; quan hệ pháp luật dân sự về thừa kế, đại diện); thực tiễn có biến động liên tục trong các quan hệ dân sự; tình trạng sản xuất, sữa chữa, sử dụng giấy tờ, tài liệu giả ngày càng tinh vi mà mắt thường khó hoặc không phát hiện được. Trong khi số lượng công việc mà công chức Tư pháp hộ tịch phải đảm nhận ngày càng tăng nên gây ra những áp lực trong thực hiện nhiệm vụ; tình trạng buông lỏng thiếu kiểm tra giám sát của lãnh đạo quản lý với cán bộ thực hiện nhiệm vụ chứng thực còn xảy ra ở một số cơ quan, đặc biệt là việc chứng thực hợp đồng, giao dịch nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ hệ lụy, tranh chấp từ văn bản, giấy tờ chứng thực.

Trên cơ sở đó đòi hỏi công tác chứng thực trong thời gian tới cần tiếp tục được Cấp ủy, Chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm túc; nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật chứng thực của cơ quan, công chức thực hiện chứng thực tại đơn vị và của cơ quan cấp dưới theo chức năng, nhiệm vụ nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của cá nhân, tổ chức có nhu cầu chứng thực. Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, cơ quan thực hiện chứng thực và công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý nhà nước về chứng thực trên địa bàn tỉnh được thường xuyên, hiệu quả hơn.

Vũ Thị Bích Liên

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: