Quyền đăng ký nhu cầu nhận con nuôi và khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện

26/07/2021

Nuôi con nuôi là một quan hệ pháp lý- đạo đức “đặc biệt” gắn liền với quyền con người, quyền công dân, thể hiện truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc qua bao đời. Việc cho, nhận con nuôi luôn vì lợi ích tốt nhất của trẻ, nhằm đảm bảo mọi trẻ em đều có quyền được sống, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển trong môi trường gia đình. Quan hệ nuôi con nuôi tồn tại từ rất sớm trong đời sống xã hội từ quan hệ nuôi dưỡng, cưu mang trẻ có hoàn cảnh đặc biệt như mồ côi, gia cảnh khó khăn, bị thất lạc... rồi từng bước được luật hóa trong các văn bản pháp luật chung về hộ tịch, hôn nhân gia đình và hiện nay là Luật Nuôi con nuôi năm 2010- văn bản luật đầu tiên quy định riêng, đầy đủ, toàn diện nhất về công tác nuôi con nuôi. Điều đó phản ánh ý nghĩa, vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi nhằm bảo đảm việc cho, nhận con nuôi là vì mục đích nhân đạo, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho các bên nhận, được nhận làm con nuôi, tránh xảy ra xung đột, tranh chấp từ quan hệ nuôi con nuôi tự phát trong cộng đồng (không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Luật Nuôi con nuôi quy định đầy đủ các nội dung về đối tượng, điều kiện, hồ sơ của người nhận, được nhận làm con nuôi; quyền lợi, nghĩa vụ của các bên cho, nhận con nuôi, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi. Trong đó có quy định về quyền đăng ký nhu cầu nhận nuôi con nuôi của người dân khi họ chưa xác định được trẻ có nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 Luật Nuôi con nuôi: “Công dân Việt Nam có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi theo quy định của Luật này nhưng chưa tìm được trẻ em để nhận làm con nuôi thì đăng ký nhu cầu nhận con nuôi với Sở Tư pháp nơi người đó thường trú; nếu có trẻ em để giới thiệu làm con nuôi thì Sở Tư pháp giới thiệu đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em đó thường trú để xem xét, giải quyết.

Trong bối cảnh điều kiện kinh tế- xã hội ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ngày được nâng cao thì mặt trái của nền kinh tế thị trường kéo theo một số hệ lụy dẫn đến tình trạng trẻ sinh ra ngoài ý muốn, trẻ bị bỏ rơi tăng cao; số cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh gia tăng... dẫn đến số trẻ có nhu cầu được nhận con nuôi (hay nhu cầu tìm gia đình thay thế) hoặc người muốn nhận con nuôi tăng trong những năm vừa qua. Theo tổng kết 10 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi, trên địa bàn tỉnh có trên 360 trường hợp đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Qua công tác quản lý cho thấy thực tế người có nhu cầu nhận con nuôi (cặp vợ chồng hoặc người độc thân) cao hơn số lượng trẻ cần tìm gia đình nhận con nuôi. Do đó người muốn nhận con nuôi thường gặp khó khăn, lúng túng trong việc tìm, xác định trẻ có nhu cầu được nhận nuôi, dẫn đến phát sinh một số tiêu cực, vụ lợi trái pháp luật trong việc cho, nhận con nuôi.

Theo Điều 16 Luật Nuôi con nuôi, người dân khi đáp ứng đầy đủ điều kiện của người nhận con nuôi theo quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi mà chưa xác định được trẻ để nhận nuôi thì có quyền đăng ký với Sở Tư pháp nơi người đó thường trú về việc có nhu cầu nhận con nuôi. Việc đăng ký thực hiện theo mẫu ban hành tại Thông tư số 10/2020/TT-BTP ngày 28/12/2020 của Bộ Tư pháp. Sở Tư pháp giới thiệu cho người có đăng ký nhu cầu nhận con nuôi đến UBND cấp xã nơi có trẻ em cần nhận nuôi để xem xét, giải quyết theo quy định (nếu có trẻ). Trách nhiệm cung cấp danh sách trẻ có nhu cầu tìm gia đình thay thế cho Sở Tư pháp do UBND xã, phường, thị trấn và cơ sở nuôi dưỡng trên địa bàn tỉnh thực hiện.

 Mặc dù, quy định về quyền đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo Điều 16 Luật Nuôi con nuôi nhằm bảo vệ, kịp thời giải quyết nhu cầu nhận con nuôi của người dân. Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp chưa nhận được Phiếu đăng ký của trường hợp nào. Nguyên nhân một phần vì tâm lý của người dân muốn biết trẻ trước khi quyết định có nhận nuôi hay không, một phần vì người dân ngại, khó khăn khi làm phiếu để đăng ký với Sở Tư pháp, do không phải là cấp hành chính gần với nơi cư trú (họ thường có tâm lý ngại làm việc với cơ quan quản lý cấp trên mà không phải là UBND cấp xã- nơi “gần gũi” với họ hơn). Mặt khác trẻ thường được giải quyết cho làm con nuôi ngay tại UBND cấp xã khi được phát hiện trên địa bàn như trẻ bị bỏ rơi, trẻ là con ngoài giá thú hoặc trẻ có hoàn cảnh khó khăn thì được người thân thích nhận nuôi. Ngoài ra, Điều 16 Luật Nuôi con nuôi quy định “Công dân Việt Nam có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi” theo quy định của Luật nuôi con nuôi thì đăng ký nhu cầu với Sở Tư pháp nơi thường trú là chưa thực sự phù hợp, gây khó khăn cho người dân. Cụ thể:

- Đối tượng thực hiện đăng ký nhu cầu nhận con nuôi chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam, do đó đã bỏ qua đối tượng là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam. Nếu người nước ngoài thường trú tại Việt Nam có nhu cầu nhận con nuôi (là trẻ em Việt Nam cư trú ở trong nước) nhưng họ chưa tìm được trẻ em nhận làm con nuôi thì họ không biết đăng ký nhu cầu tại đâu.

- Việc đăng ký nhu cầu nhận con nuôi được thực hiện tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú, quy định này không còn phù hợp với pháp luật về cư trú và yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước thời kỳ cách mạng công nghệ, đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Cụ thể là xu hướng quy định quyền lựa chọn cơ quan giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc vào nơi cư trú (thường trú, tạm trú hoặc thực tế đang sinh sống) của người dân trên các lĩnh vực liên quan nuôi con nuôi như hộ tịch, chứng thực, bảo hiểm, y tế...

- Quy định về điều kiện của người đăng ký nhu cầu nhận con nuôi là phải đáp ứng đủ điều kiện của người nhận con nuôi theo quy định của luật là không phù hợp với thực tế quản lý. Vì khi đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, luật không yêu cầu người đăng ký phải cung cấp hồ sơ của người nhận con nuôi, nên Sở Tư pháp không có đủ cơ sở để đánh giá điều kiện nhận con nuôi của họ. Việc xem xét đủ điều kiện nhận con nuôi hay không sẽ do cơ quan đăng ký nuôi con nuôi (UBND cấp xã) thực hiện khi có đủ hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi.

Nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là về thể chế trong việc khuyến khích người dân chủ động đăng ký nhu cầu nhận con nuôi để Sở Tư pháp làm đầu mối tổng hợp, quản lý và kịp thời giới thiệu khi có trẻ cần tìm gia đình nhận nuôi nhằm phát huy tính chủ động và đảm bảo Điều 16 Luật Nuôi con nuôi đi vào cuộc sống, cần sửa đổi, bổ sung Điều 16 Luật Nuôi con nuôi theo hướng quy định: Mở rộng cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phiếu đăng ký nhu cầu nhận nuôi con nuôi đến UBND cấp xã, thay vì chỉ quy định Sở Tư pháp như hiện nay; sau khi nhận được phiếu đăng ký nhu cầu nhận con nuôi thì UBND cấp xã có trách nhiệm chuyển danh sách đó đến Sở Tư pháp tổng hợp, quản lý trong toàn tỉnh. Mở rộng đối tượng có quyền đăng ký nhu cầu nhận con nuôi đến người nước ngoài, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam. Người đăng ký nhu cầu nhận con nuôi có thể đăng ký tại UBND, Sở Tư pháp nơi người đó thường trú, tạm trú hoặc thực tế đang sinh sống nhằm đảm bảo tính linh hoạt, thể hiện mục đích của việc nhận con nuôi là nhân đạo, vì quyền, lợi ích tốt nhất của bên nhận, được nhận làm con nuôi mà không bị giới hạn bởi phạm vi hành chính trong nước. Bên cạnh đó Chính quyền các cấp, đặc biệt là UBND cấp xã cần phát huy chủ động, trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước, rà soát hỗ trợ nuôi dưỡng, thông báo các trường hợp trẻ em cần được nhận làm con nuôi đến Sở Tư pháp theo quy định Điều 15 Luật Nuôi con nuôi; thực hiện thường xuyên, hiệu quả công tác tuyên truyền, giải thích cho người dân biết, thực hiện quyền được đăng ký nhu cầu nhận con nuôi. Từ đó Sở Tư pháp có cơ sở quản lý, cập nhật danh sách trẻ cần được nhận nuôi và danh sách người có nhu cầu nhận con nuôi để kịp thời giới thiệu, hướng dẫn người nhận con nuôi liên hệ với UBND cấp xã nơi có trẻ thực hiện đăng ký nuôi con nuôi theo quy định pháp luật. Bảo đảm nhanh chóng tìm được mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi; thực hiện tốt chính sách nhân đạo; góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Nguyễn Thị Mai Phương

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: