Về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

08/10/2021

     Trong thời gian qua, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và tổ chức thi hành pháp luật đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều thành quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.

     Tuy nhiên, công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh hiện nay, mặc dù có nhiều tiến bộ, chất lượng công tác xây dựng văn bản được nâng lên nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế như: Tính khả thi chưa cao; Thiếu tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; Việc rà soát văn bản QPPL chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời; vẫn tồn tại văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật. Một số văn bản đã ban hành không phù hợp về thẩm quyền.

 

Đ/c Hà Thái Nguyên- PGĐ Sở Tư pháp phát biểu trong buổi kiểm tra công tác xây dựng, rà soát văn bản quy phạm pháp luật tại Sở Kế hoạch và Đầu tư

     Để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác này, Sở Tư pháp đã tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 04/10/2021 “Về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, trong đó yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp như sau:

     1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng văn bản QPPL và thi hành pháp luật; xác định xây dựng và hoàn thiện văn bản QPPL là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; gắn kết việc xây dựng văn bản QPPL với tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; Thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng văn bản QPPL của sở, ban, ngành, địa  phương mình và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về chất lượng, thời gian trình các dự thảo văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của HĐND, UBND tỉnh theo lĩnh vực của sở, ngành, địa phương mình quản lý.

     2. Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, của Tỉnh ủy và yêu cầu thực tiễn để chủ động đề xuất các lĩnh vực cần ưu tiên trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL và thi hành pháp luật theo những nội dung định hướng trong các văn kiện của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XVII; các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy, các cấp ủy về từng lĩnh vực cụ thể.

     3. Chủ động rà soát pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý để đề xuất nội dung hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL, kịp thời xử lý những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc không phù hợp thực tiễn nhằm phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội, quyền con người, quyền công dân, hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế Việt Nam mới gia nhập (CPTPP, EVFTA, RCEP…). Chú trọng thể chế hóa, hoàn thiện các văn bản QPPL về tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

     4. Thực hiện nghiêm Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2020 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật. Chú trọng việc tổng kết thi hành văn bản QPPL, đánh giá tác động của chính sách để đề xuất việc hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL. Đề xuất xây dựng, hoàn thiện pháp luật phải đặt trong tổng thể của cả hệ thống văn bản QPPL của tỉnh, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, với chi phí tuân thủ thấp, phù hợp với các văn bản QPPL của Trung ương. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý:

     - Khi tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết để quy định biện pháp có tính chất đặc thù theo khoản 4 Điều 27 của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015, trường hợp cần thiết phải quy định thủ tục hành chính thì đưa vào nghị quyết của HĐND tỉnh.

     - Trường hợp Nghị quyết của HĐND giao cho UBND quy định chi tiết để tổ chức thực hiện thì cơ quan, tổ chức được giao xây dựng dự thảo văn bản quy định chi tiết phải chuẩn bị và trình đồng thời với dự thảo Nghị quyết và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của Nghị quyết.

     - Sau khi có ý kiến thẩm định, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo dự thảo văn bản QPPL có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo. Hạn chế tối đa việc thay đổi nội dung cơ bản của dự thảo văn bản QPPL (so với trước khi gửi thẩm định), sau đó lại gửi đề nghị thẩm định lại.

     5. Nâng cao trách nhiệm, hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng văn bản QPPL. Các sở, ban, ngành; UBND các huyện, thành phố phối hợp chặt chẽ, chủ động, trách nhiệm hơn với Sở Tư pháp, Văn phòng UBND tỉnh, các ban của HĐND tỉnh. Nâng cao tính dự báo, bảo đảm tính ổn định và chất lượng trong quá trình xây dựng văn bản QPPL.

     6. Đẩy mạnh và đổi mới các phương pháp, hình thức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức; chú trọng việc lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Nghiêm túc tiếp thu, giải trình đầy đủ, thực chất các ý kiến góp ý để bảo đảm tính khả thi.

     7. Có giải pháp cụ thể, đồng bộ để xây dựng, bố trí, điều động, luân chuyển các cán bộ, công chức có năng lực làm công tác xây dựng văn bản QPPL, pháp chế theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng các yêu cầu công việc đặt ra. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Củng cố kiện toàn tổ chức pháp chế, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật. Ưu tiên, tăng cường nguồn lực, nhất là nguồn tài chính đầu tư cho công tác xây dựng pháp luật.

     8. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng văn bản QPPL; phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong nghiên cứu xây dựng, đề xuất chính sách và soạn thảo, trình văn bản QPPL. Khắc phục triệt để tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản QPPL. Kết quả của hoạt động này được xem xét là một trong các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, là tiêu chuẩn xét các danh hiệu thi đua, khen thưởng đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan, nhất là người đứng đầu. Chú trọng kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi “tham nhũng, trục lợi chính sách”.

     9. Chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Xác định rõ cơ chế phân công, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tổ chức thi hành pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật; cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội; tăng cường thiết chế theo dõi và đánh giá tình hình thi hành pháp luật để đề xuất các giải pháp thực thi hiệu quả; phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật; đối với các vụ việc vi phạm trong tổ chức thi hành pháp luật, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền các cấp, kịp thời có biện pháp xử lý kiên quyết, triệt để, đúng pháp luật.

     k) Tăng cường hơn nữa năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, nhất là trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Chú trọng đối thoại với doanh nghiệp, người dân về vướng mắc, bất cập trong thực thi chính sách, pháp luật.

     10. Chú trọng phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật và tuân thủ pháp luật. Đổi mới phương pháp, tăng cường nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là khâu đầu vào trong tổ chức thi hành pháp luật.

     11. Tăng cường hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản QPPL để kịp thời phát hiện, xử lý những quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, trái pháp luật. Qua đó, kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc bãi bỏ cho phù hợp.

     Sở Tư pháp xin đăng tải toàn văn Chỉ thị số 16/CT-UBND để các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công dân biết và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.

Đào Hường

 

File đính kèm
Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: